Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”. Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô DN gia đình.

Việc doanh nghiệp Việt Nam tăng đầu tư sang các thị trường lớn, có trình độ công nghệ, khoa học kỹ thuật cao như Mỹ, Canada, châu Âu… Thứ năm, chủ động và không ngừng hoàn thiện cơ sở lý luận đường lối, pháp luật, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và đề án xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững. Nên xem xét cẩn trọng tính hợp lý của các quy hoạch, bởi có thể lẩn khuất trong đó những lợi ích nhóm, gây thiệt hại cho cộng đồng, cho đất nước. Nói như thế, để thấy rằng, lối suy nghĩ DNNN là yếu kém toàn diện, cần phải cắt bỏ sớm là không đúng đắn. Nhưng đồng thời, cũng phải nhìn nhận rằng, việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là điều tất yếu.

Năm 2018, lĩnh vực phi nông nghiệp lao động làm công ăn lương chiếm 40% trong tổng số người có việc làm và tỷ trọng này của khu vực thành thị cao gấp 1,7 lần của khu vực nông thôn (54,9% so với 32,8%). Nếu so với năm 2009, tỷ trọng của nhóm làm công ăn lương tăng 10,5 điểm phần trăm năm 2018, chiếm 43,9% tổng số lao động đang làm việc. Đáng lưu ý là tỷ trọng lao động tự làm và lao động gia đình chiếm tới 53,9%, cao hơn 1,2 lần so với tỷ trọng người làm công ăn lương.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương đảng khoá XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế đã chỉ ra những thành tựu đạt và hạn chế của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Thứ ba, DN, nhất là DN nhỏ và hộ nông dân vẫn còn khó tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu đầu tư. Theo báo cáo của ngành Ngân hàng, đến cuối tháng 3/2021, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đạt 2,3 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 24,6 % tổng dư nợ nền kinh tế. Như vậy, tỷ lệ tín dụng cho nông nghiệp ở nước ta còn thấp, trong khi dân số, lực lượng lao động, nhu cầu, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên trong lĩnh vực này rất lớn.

Trong những năm qua, doanh nghiệp trên địa tỉnh Thái Bình đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng gắn với tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương; một số doanh nghiệp đã đầu tư, nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Bước đầu đã có một số tổ chức, cá nhân nghiên cứu xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong cả nước. Một số DN đã có bước đi và chiến lược phù hợp với tình hình kinh tế của cả nước, đã chủ động trong việc liên doanh, liên kết hoạt động sản xuất – kinh doanh để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam đang có sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông. Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc chủ động tham gia, tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp thông minh, phát triển nền kinh tế số cần phải có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Trong đó, phải đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong phát triển nền kinh tế số, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và hoạt động trong môi trường kinh tế số.

Các công nghệ tạo phôi, nhiệt luyện, hay gia công kim loại của ngành Cơ khí đều đã lạc hậu, sản phẩm làm ra chưa đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thị trường. Công nghệ chế tạo cơ khí nội địa về tổng thể vẫn là công nghệ chế tạo đơn giản, lạc hậu, trình độ tụt hậu khoảng 2-3 thế hệ so với khu vực. Thiết bị phần lớn là vạn năng, qua nhiều năm sử dụng đã lạc hậu về tính năng kỹ thuật, độ chính xác kém, thiếu phụ tùng thay thế, thiếu chú ý bảo dưỡng định kỳ, thiếu vốn để đầu tư thay thế, đổi mới, nâng cấp. Khâu tạo phôi là một khâu rất quan trọng trong công nghiệp cơ khí, nhưng các cơ sở sản xuất vẫn sử dụng chủ yếu công nghệ đúc bằng khuôn cát, chất lượng vật đúc thấp, tỉ lệ chế phẩm cao.

Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp () khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này. Trong một báo cáo mới, Tòa án châu Âu của Kiểm toán viên đã nói rằng chi phí-hiệu quả của các chương trình bệnh động vật là “không rõ ràng”, và đưa ra các khuyến nghị để cải thiện. Các tài liệu, số liệu trong nghiên cứu được lấy từ Báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình và các báo cáo khác có liên quan.

Phát triển mạnh dịch vụ thông tin truyền thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp so với yêu cầu; cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, mất cân đối về bậc học, về ngành nghề, về vùng lãnh thổ. Tai nạn giao thông vẫn còn nghiêm trọng; ùn tắc giao thông tại đô thị lớn khắc phục chậm.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển kinh tế số. Đẩy mạnh cải cách và số hóa các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp, bao gồm việc xây dựng kết cấu hạ tầng dữ liệu quốc gia, xây dựng chiến lược quản trị số. Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính như đơn giản hóa, số hóa, điện tử hóa, minh bạch hóa thông tin để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Tập trung vào việc phát triển chính phủ điện tử, ngân hàng điện tử, giao dịch điện tử và TMĐT. ’Giải pháp để phát triển Thị trường chứng khoán ở Việt nam Để có thể xây dựng và phát triển một nền kinh tế với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như ở nước ta hiện nay đòi hỏi ngày càng nhiều vốn. Bên cạnh vốn của Nhà nước cần phải huy động vốn của dân cư trong nước và nước ngoài.

Trên thực tế, giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, khoa học – công nghệ,… Luôn có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác. Nói cách khác, nguồn nhân lực chính là nhân tố quyết định đến việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác, do vậy nó quyết định đến sự phát triển của quốc gia. Thực tiễn đã chứng minh, có những quốc gia không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi như Nhật Bản, Israel, Singapore,… Nhưng vẫn phát triển, vẫn “cất cánh” một khi quốc gia đó biết coi trọng phát triển và phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, ngành Cơ khí chế tạo – xương sống cho một nền công nghiệp phát triển cũng chưa có sự chuyển biến tích cực nếu không muốn nói là đã quá tụt hậu so với sự phát triển chung của thế giới.

Cần tạo môi trường và điều kiện để phát triển thị trường lao động hiện đại, thông thoáng, thống nhất. Nâng cao hiệu quả đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang có tác động lan tỏa. Kinh tế số và kỷ nguyên công nghệ số mang đến những cơ hội bứt phá về năng suất lao động, phát triển nhân lực chất lượng cao nhưng chính cơ hội này cũng là thách thức, đòi hỏi phải có những đổi mới trong quản lý nhà nước trong đào tạo, phát triển và sử dụng lao động. Nếu không đổi mới tư duy và cách làm thì Việt Nam không chỉ không đạt được mục tiêu phát triển bền vững mà còn tụt hậu so với các quốc gia khác. Thứ nhất, là một luật với tư cách và mục đích ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý, tập trung nguồn lực của kinh tế quốc dân hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thể hiện được rõ tính chất “hỗ trợ” và đối tượng nhận hỗ trợ.

Ở Việt Nam, “Báo cáo Việt Nam 2035” cũng đã được Bộ kế hoạch và Đầu tư (phối hợp với Ngân hàng thế giới – WB) xây dựng dựa trên quan điểm này. Vì vậy, đánh giá NLCT quốc gia theo cách tiếp cận về năng suất là sự lựa chọn hợp lý. Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ đã và đang thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Các giải pháp tại các nghị quyết 19 được nêu ra khá cụ thể và liên quan đến nhiều lĩnh vực, song chủ yếu nhấn mạnh đến giải pháp “Cải thiện môi trưởng kinh doanh”, chứ chưa đi sâu vào các giải pháp còn lại, và đặc biệt chú trọng tới vấn đề nâng cao năng suất lao động, yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi đó, thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang bộc lộ những dấu hiệu cho thấy năng lực cạnh tranh đang hầu như không được cải thiện, nhất là vấn đề thể chế, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Chính vì những lý do trên cần thiết phải có các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Việt Nam lần đầu tiên ban hành luật phá sản với tên gọi là “Luật Phá sản doanh nghiệp” vào năm 1993, sau đó đạo luật này được thay thế bởi Luật Phá sản năm 2004. Đại dịch Covid-19 như một trận đại hồng thủy không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống an sinh xã hội… Theo Tập đoàn Miniwatts Marketing, Việt Nam hiện xếp thứ 13 trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng mạng Internet đông nhất thế giới. Theo báo cáo “Nền kinh tế số Đông Nam Á 2020”, năm 2020 nền kinh tế số Việt Nam đạt 14 tỷ USD, dẫn đầu khu vực Đông Nam Á cùng với Indonesia. Cách làm ăn dựa vào quan hệ thân hữu đang để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho đất nước, đồng thời sẽ còn tiếp tục tạo ra những nguy cơ, những rủi ro chưa thể lường hết. PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn, Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, doanh nghiệp không muốn lớn là vì làm doanh nghiệp chi phí lớn quá.

Trong tiến trình hội nhập, thì các hỗ trợ từ phía Chính phủ khó thực hiện trực tiếp cho DN, nhưng biện pháp hỗ trợ gián tiếp thông qua hiệp hội lại phù hợp với các quy định của WTO. Vì thế, cần nhấn mạnh vai trò của các hiệp hội, để hiệp hội không chỉ là đại diện tiếng nói của DN, giúp DN trong lĩnh vực kinh doanh, mà còn hỗ trợ DN về quan hệ lao động, tư vấn pháp lý, đào tạo và thực hiện trách nhiệm xã hội của DN. Để loại hình doanh nghiệp này phát triển, các cơ quan quản lý cần phải thực hiện đúng chức năng và giúp DNVVN tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, bằng cách thiết kế kênh cung cấp thông tin thường xuyên về thị trường, đặc biệt là những thông tin có tính dự báo, định hướng chính sách của Chính phủ (đây là khâu yếu của các DNVVN hiện nay). Nâng cao chất lượng các chương trình xúc tiến thương mại thông qua các cơ quan ngoại giao, tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài; phát triển hệ thống kênh bán buôn và bán lẻ trên diện rộng, để hàng hoá đến được các địa phương trong nước và các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là tạo sự đột phá trong việc cải thiện môi trường kinh doanh để DNVVN phát triển. Dù ra sức đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước bởi những hoạt động kinh doanh của mình, nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn đối mặt với nhiều khó khăn từ kinh tế, nhân sự đến trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp.

Trong nhóm lao động hộ gia đình và lao động tự làm việc, nữ vẫn chiếm vai trò chủ đạo (65,4%) cao hơn so với nam (34,6%). Thu nhập từ việc làm bình quân năm 2018 của lao động làm công ăn lương vẫn ở mức thấp (5,871 triệu đồng/tháng). Trong đó, nam giới có thu nhập hàng tháng cao hơn 12% so với nữ giới (6,183 so với 5,446 triệu đồng). Theo số liệu báo cáo thống kê mới nhất của cơ quan chức năng, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Nhóm doanh nghiệp này đang tích cực đóng góp thường xuyên và liên tục khoảng hơn 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số nhân công lao động và hàng năm đóng góp xấp xỉ 17,26% nguồn thu ngân sách nhà nước.

Do nhận thức của xã hội còn chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của DNXH dẫn đến các DNXH gặp khó khăn trong quá trình hoạt động. Trong nhận thức của cộng đồng luôn có sự phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận và các hoạt động xã hội, phi lợi nhuận. DNXH thường bị hiểu sai và hoài nghi về mục tiêu xã hội khi vận hành dưới hình thức doanh nghiệp, là những rào cản nhất định đối với DNXH khi làm việc với các bên liên quan, làm gia tăng chi phí về thời gian, nguồn lực, cơ hội và hạn chế khả năng tạo tác động tích cực, bền vững. Thái độ thiếu nhiệt tình trong quá trình hợp tác với cơ quan chính quyền địa phương là rất phổ biến với DNXH. Tình trạng thiếu hụt nhận thức còn diễn ra ngay trong nội bộ khối các tổ chức tình nguyện. Các tổ chức này thường e ngại khi hợp tác với các công ty do sợ bị mang tiếng thương mại hóa.

Các thủ tục hành chính phải đơn giản hóa, công khai, công bằng, thống nhất, nhanh chóng và trực tiếp. Việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn trong hệ thống cơ quan hành chính phải gắn liền với tăng cường trách nhiệm trực tiếp và cuối cùng. Bảo đảm mọi tài sản xã hội, mọi luật định, mọi công việc nhà nước đều có người chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm hình sự cụ thể, rõ ràng.

Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của nhân dân”, cùng với “tận dụng tốt các cơ hội để thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội với các giải pháp tổng thể”. Tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế; phấn đấu GDP tăng 6-6,5%, tốc độ tăng CPI bình quân khoảng 4%; bội chi ngân sách Nhà nước khoảng 4% GDP… Đối với các quốc gia có chung biên giới như Lào, Campuchia, hình thức buôn bán chủ yếu thông qua đường tiểu ngạch, khiến lượng hàng Việt Nam đến tay người tiêu dùng nước ngoài còn nhỏ lẻ. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa quan tâm thực sự tới việc thiết lập kênh phân phối của mình tại thị trường nước ngoài mà chỉ chủ yếu là bán hàng cho các thương nhân Lào, Campuchia để họ tự phân phối tại thị trường. Điều này khiến cho việc phân phối hàng hóa không có sự chủ động và khó điều chỉnh trong những thời điểm gặp khó khăn.

Chỉ có điều các công trình đầu tư công vốn đều đội lên nhiều lần và chất lượng chưa khánh thành bàn giao đã hỏng hoặc bàn giao xong nhưng vài năm sau vẫn chưa hoàn thiện. Đối với lĩnh vực về sở hữu, quyền tài sản và hoạt động đầu tư, kinh doanh, sẽ sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Hợp tác xã, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; xây dựng Luật Khu công nghiệp, Khu kinh tế. Trong những ngày trước, khu vực này chịu trách nhiệm phân phối sản lượng của khu vực sơ cấp và thứ cấp cho người tiêu dùng trung gian và cuối cùng, đồng thời cung cấp nhiều loại dịch vụ cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng. Các hoạt động thương mại, vận chuyển và lưu trữ đảm bảo phân phối hàng hóa và dịch vụ ở nơi và khi nào cần thiết cho người tiêu dùng. Kinh doanh và dịch vụ tài chính tạo điều kiện huy động các nguồn lực và phát triển chúng vào các hoạt động của các khu vực khác nhau của nền kinh tế.

  • Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”7.
  • Đinh Văn Thành , Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua công ty xuyên quốc gia – Bài học cho Việt Nam, Đề tài cấp Bộ.
  • Hơn nữa, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên xây dựng đầy đủ hệ thống pháp lý bao gồm các quy phạm cụ thể với những giải pháp toàn diện nhằm thiết lập các nguyên tắc, đường lối, mục tiêu, chính sách, chương trình để có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Phát triển tốt các doanh nghiệp không những góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, mà còn tạo sự ổn định chính trị, xã hội trong nước. Cùng với cả nước, số lượng các doanh nghiệp được thành lập, đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Bình ngày một gia tăng, đã góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo. Việc triển khai thực hiện các nghị quyết này đã làm đơn giản hóa và giảm bớt điều kiện kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch cho mọi thành phần kinh tế, trợ giúp phát triển DNNVV.

Trong năm 2018, đa số bộ, ngành đã xây dựng các nghị định về điều kiện kinh doanh, trong đó một số điều kiện kinh doanh không cần thiết, không hợp lý, thiếu rõ ràng đã được cắt bỏ. Đồng thời, chú trọng tới việc cắt giảm chi phí khởi sự kinh doanh và gia nhập thị trường của DNNVV2. Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định và nhất quán đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý, thiếu công nghệ và nhân lực công nghệ thông tin có trình độ cao; năng lực tổ chức, triển khai công nghệ số của doanh nghiệp là những nút thắt cản trở doanh nghiệp Việt Nam trong chuyển đổi phương thức sản xuất mới, bao gồm cả khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Một số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, thoái vốn còn chậm, việc nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu, thiếu chiến lược phát triển doanh nghiệp; hiệu quả sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp còn thấp. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trình độ quản trị và công nghệ lạc hậu; khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động thấp. Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới. Trong công cuộc chuyển đổi số, vai trò chủ động của doanh nghiệp là quan trọng hàng đầu. Chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp trong nền kinh tế số phải toàn diện, cả về nhận thức, về con người và công nghệ, tổ chức quản lý…

Kết quả, đã góp phần quan trọng giúp ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giúp Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020, duy trì triển vọng kinh tế tích cực của đất nước trong trung và dài hạn và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào các chính sách của Đảng và Nhà nước. Hành trình 30 năm đổi mới Việt Nam đã ghi nhận nhiều thay đổi cơ bản về chính sách hỗ trợ và diện mạo khu vực kinh tế tư nhân . Trên phương diện kinh tế, quan điểm chung là hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sẽ phục vụ trực tiếp nhất cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống xã hội. Trong khi cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0) đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất và chế tạo thì nhu cầu lao động có kỹ năng, trình độ cao tăng mạnh. Công nghệ mới cũng sẽ thay thế nhiều việc làm cũ đồng thời tạo nên nhiều việc làm mới.

Hoặc vấn đề giờ làm thêm khống chế tối đa 300giờ/năm cũng là vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp làm việc theo đơn đặt hàng, nguyện vọng của người lao động cũng như góp phần tăng năng suất lao động. Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty Hoá Chất – Bộ Thương Mại Ngày nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Chính vì điều đó mà các doanh nghiệp cần phải hoạch định chiến lược cho đúng đắn. Điều quan trọng là phải chiếm lĩnh được thị trường và tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường.

Do đó, đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản thân hữu là rất quan trọng đối với sự tồn vong của chế độ. Chính chủ nghĩa tư bản thân hữu đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 làm cho xã hội ở Thái Lan bị mất ổn định nghiêm trọng, còn chính quyền ở In-đô-nê-xi-a thì sụp đổ. Với mô hình thể chế ở ta, việc xây dựng một cơ chế giám sát hiệu quả là rất quan trọng, nó giúp kiểm soát được sự chi phối của “lợi ích nhóm”, bảo đảm công bằng xã hội, cân đối được các nguồn lực và tạo cơ hội cho mọi thành phần kinh tế có môi trường, điều kiện phát triển như nhau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm”-một cách gọi khác của chủ nghĩa tư bản thân hữu tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI). Trong thời gian qua, bằng Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, việc chống chủ nghĩa tư bản thân hữu dường như đã được phát động thành một “cuộc chiến”. Liên tiếp các vụ án tham nhũng lớn được đưa ra xét xử, một số lãnh đạo, nguyên lãnh đạo ở các bộ, ngành, địa phương đã bị xử lý kỷ luật, thậm chí là cách chức.

Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất, phân phối, các hiệp hội và cơ quan quản lý để phát triển mạnh thị trường trong và ngoài nước. DNXH lấy hoạt động kinh doanh và sự gia tăng nguồn vốn ban đầu là phương tiện để thực hiện các mục tiêu xã hội, do đó nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội cũng như quy mô đối tượng hưởng lợi không ngừng được mở rộng. DNXH luôn hướng tới một giải pháp xã hội bền vững, đối tượng hưởng lợi được đào tạo thành nghề, có việc làm ổn định và một sinh kế lâu bền để có thể tự lập.

Mục đích chính của công việc kinh doanh là lợi nhuận nhưng không phải lúc nào mục đích này cũng được thực hiện nên doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn mục tiêu. Doanh nghiệp cần phải xác định được đâu là mục tiêu quan trọng nhất, có khả năng thực hiện lớn nhất và sẽ được doanh nghiệp thực hiện trước nhất để đặt đó là mục tiêu hàng đầu. Trong mô hình này, các mục tiêu quan trọng và dễ thực hiện được đặt trên nhất và tuần tự là các mục tiêu lâu dài hơn. Thứ hai, cạnh tranh lành mạnh như là một động lực thúc đẩy phát triển hoàn toàn bị triệt tiêu.

Nhu cầu và khả năng phát triển hệ thống phân phối của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước còn thấp. Những thương hiệu của các doanh nghiệp và hàng hóa có tên tuổi trên thị trường nước ngoài chưa nhiều. Chất lượng, chủng loại hàng hóa của Việt Nam chưa đủ/chưa phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của thị trường nhập khẩu, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe của nhà phân phối và thị trường nhập khẩu, cũng như không đủ số lượng để đáp ứng những đơn hàng lớn từ nhà phân phối. Vốn cũng là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia xuất khẩu hàng qua các chuỗi siêu thị nước ngoài phải đối mặt.

Người lao động làm việc trong một doanh nghiệp có quyền được thành lập và tham gia tổ chức đại diện ở cấp cơ sở theo sự lựa chọn của họ mà không cần phải xin phép trước. Mô hình luật sư nơi làm việc cần được thử nghiệm hoạt động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như nâng cao năng lực cho người lao động. Đây là những thách thức đối với hoạt động quản lý nhà nước về lao động trong việc đăng ký và giám sát việc thành lập các tổ chức của người lao động cả về quy định pháp luật, quản lý các hoạt động trong thực tiễn và xử lý các tranh chấp phát sinh. Việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để giải quyết được căn bản những bất cập, yếu kém trong hệ thống quan hệ lao động ở nước ta, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Với một doanh nghiệp thì việc tiết kiệm các khoản chi tiêu càng khó khăn hơn nữa và càng cần thiết hơn nữa vì mỗi quyết định đều liên quan đến cả một tổ chức lớn gồm rất nhiều những con người lao động gắn cuộc sống của mình với doanh nghiệp. Kể từ năm 1986, khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường và có sự thông thoáng về các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ sau 1990 đến nay ngành Du lịch Việt Nam đã và đang khởi sắc. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với việc phân tích hệ thống các mâu thuẫn biện chứng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Cùng với xu thế của thời đại và thế giới thì việc chuyển sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam là tất yếu. Vào những năm 70 , cuối những năm 80 của thế kỷ XX , khi mà những khủng hoảng kinh tế trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã phát triển đến đỉnh điểm, Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này . Trước tình hình này , Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chuyển nền kinh tế đất nước từ cơ chế tập trung quan liêu , bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mà mốc đánh dấu là Đại hội Đảng VI (tháng 12 năm 1986).